Mắt Chim trĩ mùa Xuân - Pheasant's Eye

Pheasant's Eye
Mắt Chim trĩ mùa Xuân
Adonis vernalis L.
Ranunculaceae
Đại cương :
Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis dao động từ đông nam Thụy Điển Suède đến phía nam Tây Ban Nha Espagne và phía Tây Sibérie. ( Vernalis theo tiến latin là  " mùa xuân printemps.")
Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis là một thực vật của những bãi cỏ và những bãi đá vôi chủ yếu hiện diện trong vùng Đông Nam của Châu Âu. Trong Pháp, nó hầu như chỉ hiện diện trong những khu vực của những Grands Causses và thỉnh thoảng ở những nơi khác rất hiếm trong những trạm, đặc biệt trong vùng Alsace trong khu rừng của Hardtwald phía Tây nam của Heiteren.
Trong Suisse, người ta tìm thấy trong Valais giữa những làng của Charrat và Saxon và Tourtemagne.
Cây thích hợp với đất nhẹ ( cát sableux), đất sét trung bình và nặng (đất sét argileux) và thích nơi đất thoáng.
pH thích hợp : đất acides, trung hòa và kiềm (alcalins). Nó có thể mọc trong nơi bán râm hoặc  không bóng râm. Nó chịu được đất khô và ẩm.
Trong thiên nhiên, Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis tìm gặp trong :
- những đồng cỏ thô prairies rugueuses,
- và sỏi đá caillouteuses,
- và những rừng thông gai pinèdes épineuses,
- và trên những sườn đồi khô coteaux secs.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis cần khoảng 6 tuần của nhiệt độ dưới 40 ° F = 4,44 ° C :
- để phá vỡ sự sống tiềm sinh ở mùa mùa xuân.
Thân thảo, sống lâu năm, từ 20 đến 40 cm cao, đơn giản, thân phân nhánh, thẳng, dựng đứng, có rảnh và rỗng nhẵn có lông bên dưới, láng hoặc gần như láng.
Căn hành màu đen nhạt, có xơ và phát triển tốt, mọc sâu vào trong đât là một nguồn dự trử và một hình thức để đáp ứng với khí hậu hạn hán.
Khi mang một hoa, thân được nói là thân thụ, trong trường hợp ngược lại, người ta gọi là thân bất thụ vô sinh. Trường hợp sau, bởi hoạt động quang tổng hợp photosynthétique của chúng, cho phép chúng sản xuất đường sucres, được tồn trử tại căn hành rhizome. Những thành phần lưu trử này sẽ cung cấp cho mùa xuân năm sau, năng lượng cần thiết để hình thành những chồi mới.
, rụng, màu xanh lá cây, mọc cách, không cuống, lá mọc áp vào thân và thành vảy ở đáy, phiến lá nhỏ căt thành những dải sợi mỏng, đỉnh hẹp và không vượt quá 1 mm rộng, có thể song song, có thể thành hình chân vịt 2-3 thùy với những lá phụ nhỏ như sợi chỉ thẳng, được sắp xếp rập rạp trên những thân thụ và phân tán rải rác trên những thân vô sinh. Những lá bên dưới teo lại cho đến khi chỉ là một vảy.
Những thân khoảng 20,3 cm cao khi mà phát hoa mới bắt đầu trổ vào cuối mùa xuân, nhưng nó tiếp tục dài ra cho đến khi nó đạt được khoảng 40, 6 cm chiều cao.
Phát hoa đơn độc ở đầu nhánh.
Hoa, hảy hình dung một đám sáng chói, khoảng 7,62 cm, nụ hoa hình chén buttercups màu vàng kim, lớn trong một nơi dầy đặc, màu xanh lá cây tươi như lá cây. Hoa rộng từ 4 đến 10 cm, không đều, có răng ở phía trên và không có đĩa mật, có cuống ngắn gọn, bao gồm :
- những vòng đài hoa màu xanh mờ, rời, có lông mịn, đài rụng, hình bầu dục bao chung quanh cánh hoa.
- cánh hoa, rời, hình thuôn dài hay mũi mác, kích thước thay đổi từ 20 đến 40 cm, từ 12 đến 20 cánh hoa hình ellip vàng, tỏa ra có những răng nhỏ ở đỉnh.
- Nhiều tiểu nhụy, màu xanh lục trước khi hình thành phấn hoa său đó biến thành màu vàng đứng đầu bởi những bao phấn màu vàng anthères jaunes.
- Bầu noãn, thượng, hình tròn, có lông, với một mỏ ket ngắn và cong xuống
Thụ phấn bởi những côn trùng.
Trái, gồm nhiều bế quả akènes với 1 mặt. Những trái Cây mờ, có dạng hình trứng, bế quả tối thiểu 3 cm dài x 1,5 cm rộng, thu hẹp bên dưới, 2 bên có mũi ngắn, cong dài khoảng 0,5 đến 1 mm dài. Vòi nhụy còn lại ở trái không rụng Trái được phát tán bởi những loài kiến.
Bộ phận sử dụng :
Bộ phận sử dụng thuốc : rễ và nguyên cây.
▪ Những Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis được thu hoạch cứ mỗi 3 năm trong khi trổ hoa, được sấy khô để được sử dụng trong :
- những dung dịch trong cồn  và những trích xuất lỏng.
▪ Thảo dược Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis không lưu trử tốt, như vậy những thảo dược tồn trử phải thay thế mỗi năm.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Thành phần :
Những thành phần hóa học của Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis có thể bao gồm nhiều khác nhau glycosides như là :
- adonidoside,
- adoniveroside,
- cymarine,
- adonitoxine,
- adonine,
- choline,
- picradonidine,
- và résine.
● Lịch sử của thành phần hóa học :
Đây là thực vật bản địa của miền nam Châu Âu Europe méridionale (được tìm thấy đặc biệt trong Crimée) và Sibérie và Labrador.
Đây là một trong những hoa mùa xuân đáng tin cậy và tìm thấy tăng trưởng trong những nơi cao.
Nó được đưa vào trong y học bởi Dr Bubnow (1879) như :
- một kích thích tim stimulant cardiaque.
Những Bác sỉ, đã nghiên cứu dưới Bác sỉ Giáo sư Botken, đã quan sát sự sử dụng của nó bởi người nông dân Nga như một phương thuốc chho :
- bệnh thủng nước ( cổ chhướng ) hydropisie,
- và những bệnh tim mạch maladies cardiaques.
Linderos(1876) đã thu được một chất kết tinh màu vàng cristalline jaune từ những và đã xác định như :
- acide aconitique(C6H6O6).
▪ Trong năm 1882, Giáo sư V. Cervello đã phân lập cho là một nguyên hoạt chất của nó, được gọi là :
- adonidin(adonidine).
▪ adonidine là một tinh thể glucoside cristallin, không đạm hóa ( không chứa nitơ ) non azoté, không mùi, không màu, và đắng mạnh mẽ intensément amer. Hoà tan nhẹ trong éther, trong khi nó hòa tan hoàn toàn trong alcool và trong nước. Trên thực tế nó không hòa tan trong benzol, chloroforme và térébenthine.
Theo Podwissotzky, đã nghiên cứu gần đây nhất (1888),
- adonidine
là một hỗn hợp bao gồm của :
- acide adonitique,
- adonidoquercitrine,
- adonidodulcit,
- và của vài glucosides,
như vậy, một trong số đó là thành phần hoạt động và được ông đặt tên :
- picradonidine.
Đây là một chất rất đắng amer và vô định hình amorphe, hòa tan trong alcool, éther và nước, và người nói là một chất độc mạnh cho tim poison cardiaque.
▪ Tanin kết tủa adonidine từ dung dịch nước hoặc éther diéthylique.
Rễ Adonis thường được dùng để là giả Cây hélébore noir (Helleborus niger).
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis có một lịch sử dài của sự sử dụng y học và còn giữ lại trong những dược điển Pharmacopées của nhiều nước trong Âu Châu.
▪ Cây chứa những glycosides cardiaques tương tự như người ta tìm thấy trong Cây Foxglove (Digitalis purpurea).
▪ Những chất này cải thiện tính hiệu quả của tim cœur, gia tăng sản lượng của nó cùng một lúc làm chậm tốc độ của nó.
▪ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis hành động kích thích :
- những cơ tim muscles du cœur,
do đó làm gia tăng :
- tính co thắt tim contractilité cardiaque,
và gây ra sự co thắt của những động mạch nhỏ petites artères trong tất cả cơ thể, do đó làm gia tăng :
- huyết áp động mạch tension artérielle.
▪ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis giảm :
- tần số nhịp đập tim ( xung ) fréquence de l'impulsion,
- và điều chỉnh nhịp tim rythme cardiaque.
▪ Nó cũng có một hành động an thần sédativevà vì vậy thường được quy định cho :
- cho những bệnh nhân có tim đập quá nhanh hoặc không đều .
▪ Giáo sư . E. M. Hale đề nghị sự sữ dụng của nó trong :
- viêm inflammationtâm nội mạc endocardique, với van viêm hay biện mạc viêm valvulite.
Nó tương thích với trường hợp nơi đây những cơ tim muscles cardiaques làm việc để :
- vượt qua sự tắc nghẽn van tim obstruction valvulaire,
- hoặc khi có nguy hiểm của sự giãn nở tim dilatation du coeur từ sự suy yếu của những mô cơ bắp tissus musculaires.
▪ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis thường được sử dụng như :
- an thần sédatif
cho những bệnh nhân mắc bệnh :
- rối loạn nhịp tim ( tim đập không không đều ) battements cardiaques irréguliers.
▪ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis là :
- một lợi tiểu tự nhiên diurétique naturel,
- và co mạch vasoconstricteur
Nó được sử dụng trong chữa trị những bệnh nhân mắc phải :
- huyết áp thấp hypotension.
▪ Giáo sư Hale cũng chỉ ra rằng nó rất có giá trị trong :
- những rối loạn tim mạch thứ cấp cardiaques secondaires,
- kết quả của bệnh Bright,
đồng thời được chỉ định bởi :
- một nhịp đập không đều pouls irrégulier và gián đoạn không liên tục intermittent,
chỉ ra hành động tim yếu cardiaque affaiblie, với :
- sự ứ máu tĩnh mạch stase veineuse,
▪ Thảo dược Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis cũng được sử dụng trong chữa trị :
- huyết áp thấp pression artérielle basse,
- và hành động lợi tiểu mạnh diurétique
có thể sử dụng để :
- chống lại sự giữ nước rétention d'eau.
Cây Mắt Chim trĩmùa Xuân Adonis vernalis rất có giá trị trong :
- bệnh thủng nước ( cổ chướng ) tim hydropisie cardiaque.
▪ Pallas gán cho những đặc tính :
- dịu đau trấn thống điều kinh emmenagogue của Cây.
▪ Giáo sư John M. Scudder nói : « hành động bổ của nó trên tim cœur đã được đánh dấu nhất. Nó được đề nghị sử dụng trong :
- áp xuất tim pression cardiaque trên sự cố gắng quá sức.
Trong một trường hợp, hành động lợi ích của nó đã được quan sát trong một ngày.
▪ Ủy Ban E Đức, chuyên khảo, hướng dẫn chữa trị cửa y học với căn cản thảo dược đã phê chuẩn Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis cho :
- nhịp loạn tim arythmie,
- và những cơn đau thần kinh tim mạch nerveuses cardiaques.
▪ Nó bao gồm trong nhiều thuốc độc quyền, đặc biệt là khi những hiệu quả của nó không
- tích lũy cumulatifs.
● Phương thuốc vi lượng đồng cân homéopathiques cho cholestérol tăng cao .
▪ Bác sỉ vi lượng đồng căn homéopathiquesnói đánh giá cao của thuốc nầy trong :
- những bệnh tim maladies cardiaques,
- và những bệnh thận rénales.
▪ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis cũng được sử dụng trong vi lượng đồng căn homéopathieđể chữa trị :
- đau thắt ngực angine de poitrine.
▪ Toàn bộ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis có chứa :
- những hétérosides cardiotoniques cao,
đây là những giàu nhất những thành phần adonidosideadonivernoside, trước đây đã ghi nhận dưới tên adonidine, những chất có thể gây ra :
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs,
- tim mạch cardiaques,
-  và thận rénaux
mà ở liều thấp có thể gây ra tử vong bởi :
- tê liệt paralysiecủa hệ thống hô hấp système respiratoire
Thậm chí những này cũng có những đặc tính :
- lợi tiểu diurétiques,
- và an thần thần kinh neurosédatives, nghĩa là thuốc có khả năng quản lý điều hòa hoạt động của hệ thần kinh
cho những đặc tính như :
- bổ tim cardiotoniques,
- và an thần sédatives,
trong ngành công nghệ dược phẩm pharmaceutique, nó đi vào trong thành phần của thuốc médicaments.
▪ Phương thuốc vi lượng đồng cân này là lợi ích nếu những cơ tim đang trong giai đoạn thoái hóa chất béo dégénérescence graisseuse,
- nó điều chỉnh nhịp tim régule le pouls,
- và gia tăng sức  mạnh của những co thắt của tim contractions du cœur,
với sự gia tăng của những sự bài tiết nước tiểu sécrétions urinaires.
Phương thuốc này có :
- một trái tim yếu cœur faible,
- những xung ( mạch đập ) chậm impulsions lentes ( yếu faibles),
- và sinh khí thấp faible vitalité.
▪ Trong vi lượng đồng căn homéopathie, người ta còn sử dụng Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis như :
- kích thích tuyến giáp trạng glande thyroïde.
▪ Liều lượng đề nghị Vi lượng đồng căn Homéopathie dược liệu Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis là :
- từ 5 đến 10 giọt dung dịch trong cồn teinture.
Chủ trị : indications
Như thuốc bổ tim tonique cardiaque, để được sử dụng khi mà hành động của tim bị yếu cardiaque est faible, nhưng với it máu sang trong :
▪ Hệ thống động mạch système artériel, với :
- huyết áp thấp faible pression,
- và tâm trương diastole ngắn lại,
và vì vậy sung mãn tĩnh mạch plénitude veineuse và ứ máu stase với :
- một huyết áp pression tăng lên, yếu ớt,
- và xung ( nhịp đập ) không liên tục gián đoạn,
▪ suy van insuffisance valvulaire, với :
- trào ngược régurgitation,
- và thủng nước cổ chướng hydropisie;
▪ Suy yếu mạch máu affaiblissement vasculairevới :
- thụ động passive,
- đau đầu sung huyết maux de tête congestifs;
- tắc nghẽn mãn tính congestion chronique.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Dược điển Pharmacopée cho thấy đã rút ra những chất hoạt động, được sử dụng để chữa trị những bệnh khác nhau.
▪ Trong Đông Âu Europe de l'Est, những rễ (Radix Adonidis) Cây Mắt Chim trĩmùa XuânAdonis vernalis đã được sử dụng trong những chế phẩm dùng cho thú y vétérinaire, đặc biệt để chữa trị cho những con ngựa chevaux(HEGI, 1927).
Nó cũng được sử dụng như :
- tẩy xổ dữ dội purgatif drastique.
Nghiên cứu :
● Nghiên cứu những đặc tính dược lý của Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis đã được biết từ thời cổ đại rất xưa. Bột của Cây được sử dụng trong :
- những suy tim mạch insuffisances cardiaques ;
nó khôi phục biên độ amplitude :
- của những nhịp đập tim pulsations du cœur,
-  chống lại phù nề œdème của những chi dưới membres inférieurs,
- và thúc đẩy loại bỏ nước tiểu élimination urinaire ở những bệnh nhân này.
Người ta có thể tham khảo tìm thấy vấn đề này trong những công trình nghiên cứu sau đây :
▪ N. Burnov, Thèse, Univ. de Saint-Petersbourg (1880) : Action physiologique et thérapeutique de l’Adonis vernalis sur la circulation sanguine (en russe), et Deutsch. Arch. klin. Med., 33 ( 1883), 262-311 (en allemand) ; H. Huchard, Union Médicale,
41 (1886), 3e semestre, 25-29 và 49-55 ; H.A. Hare, Therap. Gazette, 10 (1886), 217-221 ;
▪ A. Henneton : Adonis vernalis dans l'asystolie et les néphrites, Thèse (Dr. Méd.) Lille, 1909 ; J. Chevalier, Bull. Gén. Thérap., 165 (1913), 305-309.
● Những osides vô định hình (adonidoside de Mercier) là :
- những chất độc của tim poisons du cœur cực kỳ hoạt động.
Ở loài chó, với liều 40 microgrammes bởi kilogramme động vật, nó có một hành động của thuốc bổ tonique và gây ra gia tăng :
- sự co bóp của cơ tim contractilité du myocarde ;
nhưng, bắt đầu từ 80 microgrammes bởi kilogramme, người ta thấy xuất hiện của :
- nhịp tim đập chậm bradycardie ;
trên 120 microgrammes, người ta phát hiện những rối loạn thâm sâu trong dẫn truyền :
- nhĩ-thất ( tai - não thất ) auriculo-ventriculaire,
- và tính dễ bị kích thích tim excitabilité cardiaque ;
cuối cùng với 200 microgrammes gây ra :
- ngừng tim ở thời tâm thu systole,
- và tử vong mort
(R. Lutembacher, J.L. Mercier et F. Mercier : Rev. Pharmacol. et Thérap. Exper., 1 (1927), 87-96 ; R. Lutembacher : Bull. Méd., 1928, n° 11 ; Pratiq. Méd. Franc., mai 1928).
Để xem chi tiết hơn công trình nghiên cứu trước đây, người ta cũng có thể tham khảo :
▪ G. Garnier, L. Bezanger-Beauquesne và G. Debraux : Ressources Médicinales de la Flore Française, Paris, 1961, tome 1, p. 432-436.
● Thêm vào đó những dược điển cổ xưa pharmacopées cấp cho Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis một hành động :
- an thần sédative
thú vị đặc biệt cho võ não écorce cérébrale, được sử dụng trong chữa trị :
- chứng loạn thần kinh névroses,
- những trạng thái lo âu états d'anxiété,
- và thậm chí của chứng  động kinh épilepsie,
- và chứng bệnh máy tay múa giật trẻ em chorée infantile
( xem : Richtzenhain : Medizinische Welt, 1934, no 27, 950, và Merck Annalen, 1935, p. 39).
▪ Những công trinh nghiên cứu gần đây đã thực hiện trong Liên xô Union Soviétique với những phuơng pháp hiện đại hơn, nhất là bởi D.I. Sapegin, Farmakol. i Toksikol, 26 (1963), n° 1, 7-10, xác định ảnh hưởng thuận lợi trên những chức năng thần kinh bên trên nerveusessupérieures và đặc biệt trên tốc độ của sự thu hồi acquisition của những phản xạ có điều kiện ở chuột Rat.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Thận trọng :
Những phòng ngừa, tuy nhiên là cần thiết cho thấy độc tính mạnh của loài này. Nó không đề nghị cho sự sử dụng dưới mọi hình thức mà không có sự tư vấn của Bác sỉ hoặc chuyên viên y tế có khả năng thật sự.
Cây Mắt Chim trĩ Adonis vernalis chứa :
- những glycosides độc hại toxiques
và không được đề nghị cho những trẻ em hoặc những phụ nữ mang thai enceintes.
Trong trường hợp quá liều, phải tham vấn với một chuyên gia y tế tức khắc để giảm :
- nguy cơ của chất độc poison.
▪ Thuốc phải được sử dụng với sự thận trọng khi có :
- viêm dạ dày ruột inflammation gastro-intestinale.
▪ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis chứa những hóa chất độc hại chimiques toxiques với một liều lượng không đúng để sử dụng có thể là có hại nocif.
▪ Thành phần adonidine trong liều của 3 hạt Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis tất cả những nửa giờ demi-heures, quản lý dùng sai lầm, sản xuất ra :
- ói mữa vomissements,
- và tẩy xổ dữ dội purges violents (Durand).
▪ Với liều mạnh, làm tê liệt paralyse:
- tim cœur,
- và những mạch máu vaisseaux sanguins.
Trái ngược với digitale, nó không tích lũy cumulative.
▪ Thành phần hóa học khác nhau hiện diện trong thực vật này làm cho nó có vị chát âcres và đắng amères, đây là lý do mà những động vật nuôi khinh miệt.
Những động vật vô tình ăn phải Cây này tươi, bị ngộ độc intoxiqués.
Bị đau bụng dữ dội coliques violentes và tiêu chảy diarrhées, Con vật này chết vì kiệt sức épuisement (BECKER, 1984).
Ứng dụng :
▪ Những sự sử dụng y học Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis có thể là đa dạng. Điều nầy có thể bao gồm :
▪ Chất glycoside adonidine hiện diện trong cây được biết để :
- gia tăng tính hiệu quả của tim efficacité du cœur.
▪ Cây Mắt Chim trĩ mùa Xuân Adonis vernalis được sấy khô và thường được sử dụng trong chế phẩm trong cần teintures và trích xuất lỏng khác.
Nó thường được sử dụng trong những trường hợp  :
- chuột rút crampes,
- bệnh sốt fièvres,
- và rối loạn tâm thần troubles mentaux.
▪ Phương thuốc hành động nhanh chóng, thậm chí nhanh hơn digitaline, và được dung nạp tốt.
Lượng nước tiểu đã gia tăng, có thể do bởi hành động của nó trên :
- sự lưu thông thận circulation rénale.
▪ Trong bệnh nước tiểu có lòng trắng trứng albumine albuminuriemãn tính, với một nước tiểu :
- ít và loãng và trong sáng,
- và mê sảng délire,
những liều với 5 giọt Cây Mắt Chim trĩ Adonis vernalis có rất nhiều lợi ích cho bệnh nhân, và trong trường hợp khác, nó kiểm soát :
- những co giật convulsions,
- uré máu urémiques,
đã có thường xuyên, vì vậy mà nó không xuất hiện nữa trong thời gian 2 năm, khi bệnh nhân tử vong décédé (Wilcox).
▪ Theo AMZIEV (1980), thực vật này đi vào trong chữa trị của :
- nhịp tim đập nhanh tachycardie,
- bệnh tâm suy ( tim ngừng đập ) asystolie,
- và rối loạn nhịp tim arythmie.
Nó được sử dụng như :
- thuốc bổ tim cardiotonique,
- thuốc điều trị những rối loạn tuần hoàn tĩnh mạch phlébotonique, (được dùng bằng đường uống hoặc áp dụng trên da ….).
- gây sẩy thai abortif,
- an thần sédatif,
- và diệt giun sán vermifuge.
Nó cũng cho phép tranh đấu chống lại những đau bệnh khác, như là :
- bệnh thống phong goutte,
- bệnh thủng nước ( cổ chướng ) hydropisie,
- bệnh béo phì obésité,
- những sạn thận calculs rénaux,
- và kết thạch túi mật vésiculaires (WEPF, 1999).
● Liều lượng :
 Cây Mắt Chim trĩ Adonis vernalis đã được ghi nhận với những chất nguy hiễm trong bản C  substances dangereuses, tableau C ( Dược điển Pháp 1949).
Liều thối đa :
▪ Cho 1 liều : 1 gramme (un gramme);
▪ để trong 24 giờ : 3 grammes (Ba grammes).
Trong ngâm trong nước đun sôi infusion : 4 đến 8 grammes của Cây Mắt Chim trĩ Adonis vernalis sấy khô trong 250 grammes nước ( với tĩ lệ trong từ 4 hoặc 6 dùng uống ) trong 24 giờ.

Nguyễn thanh Vân

Nhận tin mới qua Email

  • Cập nhật tin tức hoàn toàn miễn phí qua Email
  • Đảm bảo an toàn thông tin của bạn
  • Nhận quà hàng tháng - Tri ân độc giả

Bài viết liên quan