Mãn đình thuốc - Marsh Mallow

Marsh Mallow - Guimauve
Mãn đình thuốc
Althaea officinalis- L.
Malvaceae
Đại cương :
Danh pháp khoa học đồng nghĩa :
Althaea sublobata. Althaea taurinensis. Althaea vulgaris. Malva officinalis.
Một thành viên của họ Malvaceae, Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis là một cây có những lông tơ trắng của những nước Châu Âu và Châu Á. Là một thực vật sống lâu năm có tên khoa học là Althaea officinalis.
Tên giống là Althaea, là dẫn xuất từ tiếng Hy lạp “ λθειν ” (để chữa bệnh), và thường xuyên nhất của những đặc tính chữa bệnh của nó.
Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis có nguồn gốc phần lớn trong những nước ở Châu Âu Europe, Danemark về hướng nam.
Nó phát triển trong những đầm lầy nước mặn, trong những đồng cỏ ẩm ướt, hai bên bờ mương, những nơi có những chất thải, trên những bờ sông có thủy triều ở hầu hết những vùng Bắc Mỹ và trồng. Thường gặp ở ven biển, loài này đặc biệt thích ở vùng đất ngập nước và có ánh sáng mặt trời đầy đủ.
Ở những loại Cây cảnh đặc trưng có thân lớn, thẳng tốt cung cấp cho những có răng và xẻ thành những thùy.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cỏ to, thân thẳng từ 0,91 đến 1,22 m, nhưng có thể đạt đến 2 m, đơn giản hoặc chỉ phân vài nhánh ngang.
Rễ sống lâu năm, đường khoảng 0,2 đến 3 cm, có những rãnh sâu dọc theo chiều dài, dầy, dài và mảnh, rất cứng và linh hoạt, thường vặn theo vòng xoắn, thô, màu trắng nhạt bên ngoài và có xơ bên trong, có mùi thơm, hương vị ngọt và có nhiều chất nhày.
Một trong những đặc tính của nó là Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis có rất nhiều nụ ngầm dưới đất để bảo đảm cho sự nhân giống của nó.
, đáy hơi tròn tròn, hình xoan trái tim, khoảng 51 đến 76 cm dài và 1 1/4 ( pouce =2,54 cm ) rộng, bìa nguyên hoặc có 3 đến 5 thùy, đỉnh nhọn, có răng cưa tròn không đều dọc ở bìa mép và dày, cuống lá dài.
Hoa, giống như hoa bụp nhưng nhỏ hơn và có màu hường nhạt, mọc ở nách lá, hoặc phát hoa hình chùy, hình thức sau thường gặp hơn.
- đài hoa, nhiều, bên ngoài từ 6 đến 9
- cánh hoa, 5, màu trắng hay hồng nhạt, đậm ở trung tâm.
- tiểu nhụy, hợp lại thành ống ngắn, những bao phấn có dạng hình thận và 1 tế bào duy nhất màu đỏ.
- nhụy cái, bầu noãn nhiều buồng, 1 noãn.
Trái, hình tròn và dẹp trông giống như một phó mát tròn cắt lát.
Bộ phận sử dụng :
Lá, rễ, hoa.
▪ Những Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được thu hoạch vào tháng 8 août khi Cây đi vào trổ hoa và có thể sấy khô bảo quản để một sử dụng về sau. Người ta chỉ thu hoạch những ở một ngày đẹp trời, vào buổi sáng, sau khi sương đã được khô ráo bởi ánh nắng mặt trời.
▪  Rễthu hoạch tốt nhất vào mùa thu, chọn lựa những Cây có 2 năm tuổi cắt lát và sấy khô để cho một sự sử dụng về sau.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Những thành phần hóa học bao gồm :
- altéahexacosanyl lactone (n-hexacos-2-ényl-1,5-olide),
- 2β-hydroxycalamène (althacalamène),
- và glucoside altheacoumarine (5,6-dihydroxycoumarine-5-dodécanoate-6ß-D-glucopyranoside)
▪ Những thành phần hóa thực vật phytoconstituantsđược biết là :
- acide laurique,
- β-sitostérol,
- và lanosterol.
▪ Những thành phần hoạt động đã gặp trong Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis là :
- asparagine,
- althein,
- ascorbic-acide,
- flavonol glycosides (y compris gossypin-3-sulfate),
- malvin,
- pectine,
- phénoliques-acides,
- quercétine,
- salicylic-acide,
- và  sucose.
▪ Thành phần của những rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis :
- acide galacturonique,
- galactose,
- glucose,
- xylose,
- và rhamnose,
- polysaccharide althaea mucilage-O,
- asparaginène,
- bétaïne,
- lécithine,
- và phytostérol,
- polysaccharides.
▪ Những có chứa :
- coumarine scopoletin.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis là một thảo dược rất lợi ích cho những gia đình :
Những đặc tính làm dịu bớt đau demulcentes một cách nhẹ nhàng của nó mang lại rất hiệu quả trong chữa trị :
- những bệnh viêm inflammations,
- và những kích ứng của những màng nhầy ( niêm mạc ) irritations des muqueuses
như là :
- ống tiêu hóa tube digestif,
- những cơ quan đường tiểu organes urinaires,
- và hô hấp respiratoires.
▪ Những hạt cũng được nhai như :
- một hưng phấn thần kinh nervine,
- thuộc về bao tử stomachique,
và để :
- làm dịu mềm hơi thở souffle,
cũng được cho là :
- chất kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ những rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis chống lại :
- acide dạ dày dư thừa excès d'acide gastrique,
- viêm loét dạ dày tá tràng ulcération peptique,
- và loét dạ dày gastrite.
▪ Toàn cây, nhưng đăc biệt là rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis, là :
- chống ho antitussive,
- thuốc chỉ thống ( làm dịu bớt đau ) démulcent,
- lợi tiểu diurétique,
- chất làm mềm cao hautement émolliente,
- chất nhuận trường nhẹ légèrement laxative,
- và đau răng ( xỉ thống ) odontalgie.
- giảm đau analgésiques,
- hạ nhiệt fébrifuges,
▪ Nó được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- những bệnnh phổ affections pulmonaires,
- và đau đường tiểu maux urinaires.
Rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis có thể được sử dụng trong thuốc mỡ pommade để chữa trị :
- những mụn nhọt furoncles,
- và nhọt ung mũ abcès.
▪ Ủy Ban Đức E chuyên khảo Commission allemande E Monographies, hướng dẫn điều trị của thực vật liệu pháp phytothérapie, phê duyệt Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis cho :
- kích ứng miệng irritation de la bouche,
- và cổ họng gorge,
- và kết hợp với ho khan toux sèche / viêm phế quản bronchite( Rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis),
- viêm nhẹ niêm mạc inflammation de la muqueuse của dạ dày estomac( rễ ).
Rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được sử dụng như :
- một bàn chảy đánh răng brosse à dents,
- và đưa ra cho những trẻ em mọc răng để nhai .
▪ Đặc tính làm dịu bớt đau démulcent và làm mềm émollientes của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis mang lại lợi ích trong :
- bệnh viêm inflammation,
- và kích ứng của ống tiêu hóa ( kênh thức ăn ) canal alimentaire và những cơ quan đường tiểu organes urinaires và hô hấp respiratoires.
▪ Trong những bệnh :
- xuất huyết hémorragiescủa những cơ quan đường tiểu organes urinaires,
- và trong bệnh kiết lỵ dysenterie,
nó được đề nghị sử dụng rễ dạng bột đun sôi trong sữa lait.
▪ Hành động của rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis trên những ruột intestins không kèm theo bất kỳ chất chát astringence.
▪ Trà thé của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis hoặc trà bụp Hibiscus được nổi tiếng trong y học thay thế cho sự sử dụng của nó như một chất chỉ thống làm dịu bớt đau demulcent để :
- giảm những viêm cổ họng inflammations de gorge,
- và viêm thanh quản laryngite,
như một thuốc long đờm expectorant, cho :
- ho toux,
- và viêm phế quản bronchite.
● Lợi ích cho sức khỏe và sự sử dụng của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis :
Cây Mãn đình thuốcAlthaea officinalis trong trạng thái tự nhiên là nhiều lợi ích và tốt cho sức khỏe hơn so với anh em họ của nó bán trong những cửa hàng dược phẩm.
Những và những rễ của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được sử dụng trong y học.
Đây là một trong số những phương cách mà Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis có thể được sử dụng và những lợi ích mà nó cung cấp như là :
▪ Chống viêm Anti-inflammatoire :
Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis là lợi ích trong chữa trị của :
- những bệnh viêm da inflammatoires de la peau
như là :
- mụn cám acné,
- chàm, chóc lỡ eczéma,
- và viêm da tiếp xúc dermatite de contact.
Nó có thể được áp dụng tại chổ để chữa trị :
- những kích ứng nhẹ khác của da irritations légères de la peau.
▪ Cải thiện tiêu hóa digestion :
Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis cũng được sử dụng để :
- điều hòa tiêu digestion
và ngăn ngừa những vấn đề, như là :
- những ợ nóng brûlures d'estomac,
- và trào ngược acide reflux acide.
Những đặc tính tương tợ cho phép Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis làm dịu đau cổ họng mal de gorge, khiến cho nó :
- làm dịu ống tiêu hóa tube digestif,
- ngăn ngừa những loét ulcères,
- khó tiêu indigestion,
- ợ nóng brûlures d'estomac,
 và còn nữa.
▪ Giảm những bệnh đau cổ họng maux de gorge :
Những đường đa polysaccharides hiện diện trong những và những rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis có những đặc tính :
- kháng khuẩn antibactériennes,
- và nhầy mucilagineuses.
Điều này có nghĩa là Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis không chỉ giúp chống lại những lỗi gây ra đau cổ họng mal de gorge, nhưng nó cung cấp thật sự một giảm đau nhức.
Bằng cách ăn Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis, những đường đa polysaccharideslàm giảm :
- những màng viêm membranes enflammées trong cổ họng gorge và miệng bouche.
Người ta cảm thấy thảo dược để lại một lớp phủ hơi nhầy trên cổ họng gorge, cung cấp một giảm đau nhức douleur.
Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis cũng có những đặc tính :
- chống ho antitussives,
ngăn ngừa những ho đau đớn toux douleureusevà ho khan sèches.
▪ Hỗ trợ cho miễn nhiễm  immunité
Nghiên cứu cho thấy rằng Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis gia tăng :
- số lượng bạch huyết cầu globules blancs trong cơ thể .
Những bạch huyết cầu này globules blancs là cần thiết để chống lại :
- những bệnh cảm lạnh rhumes,
- bệnh cúm flus,
- và những bệnh nhiễm trùng khác infections.
▪ Quy định trên đưòng trong máu :
Khoa học đang bắt đầu thực hiện những hiệu quả có thể của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis trên sự điều hòa những nồng độ đường máu trong cơ thể.
Nó đã được sử dụng trong những nghiên cứu như một thay thế tự nhiên thành công để cho sự quản lý đướng máu glycémie ở những bệnh nhân bệnh tiểu đường diabétiques.
Một nghiên cứu khác được thực hiện trên những chuột, mô tả là thảo dược có khả năng giảm hạ đường máu glycémie. Mặc dầu nhiều nghiên cứu hơn nữa phải được thực hiện, tiềm năng của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis để hỗ trợ cho những bệnh nhân :
- bệnh tiểu đường diabétiques,
- và tiền-bệnh tiểu đường pré-diabétiques
trong sự quản lý đường máu glycémie là một hứa hẹn.
▪ Ngăn chận những sạn thận calculs rénaux :
Dùng một bổ sung Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis có thể giúp ngăn ngừa :
- những sạn thận calculs rénaux,
và cũng có thể giúp đi qua của những kết thạch sạn ít đau đớn.
Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis cũng có thể giúp :
- điều hòa những chức năng thận tổng quát fonction rénale globale,
- và có thể giảm bớt những khó chịu inconfort,
- và nóng rát trong khi đi tiểu brûlure en urinant.
Chủ trị : indications
▪ Chỉ định chữa trị thông thường :
Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis làm dịu cơn ho kích ứng :
- hoặc những kích ứng cổ hông irritations de la gorge,
- và những màng nhày niêm mạc muqueuses,
- và những triệu chứng liên quan đến viêm dạ dày gastrites.
Nó được dùng như :
- thuốc nhuận trường laxatif, trong trường hợp táo bón constipation.
▪ Những chỉ định khác chứng minh :
Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis cũng sẽ có, những đặc tính làm êm dịu trong những trường hợp :
- bệnh mắt nhẹ affections oculaires légères.
▪ Sử dụng bên trong cơ thể :
Hiệu quả long đờm expectorants, trong trường hợp :
- bệnh cúm grippe,
- cảm lạnh rhumes,
- bệnh viêm nước catarrhes,
- viêm phế quản bronchites,
- viêm thanh quản laryngites,
- viêm họng pharyngites,
- bệnh suyễn asthme,
- hoặc viêm khí quản trachéites.
Hiệu quả làm dịu trên những đau cổ họng maux de gorge và trên bệnh ho toux ( ho đàm grassehoặc ho khan sèche).
Chữa trị những bệnh nhiễm trùng của :
- những đường hô hấp voies respiratoires,
- hoặc những màng nhầy muqueuses,
- và những rối loạn đường tiểu troubles urinaires.
Hiệu quả :
- nhuận trường nhẹ laxatifs légers trên sự táo bón constipationthỉnh thoảng.
Giảm bớt những triệu chứng của :
- những viêm dạ dày gastrites,
- và những viêm ruột entérites.
● Sự sử dụng bên ngoài cơ thể :
Cây Mãn đình thuốcAlthaea officinalis tham gia vào chữa trị :
- những chứng loét miệng aphtes,
- những nhọt ung mũ abcès,
- và những nhọt đầu đinh furoncles.
- những vết bầm tím ecchymoses,
- bong gân entorses,
- những cơ bắp muscles endoloris,
- những vết chích côn trùng piqûres d'insectes,
- viêm da inflammations cutanées,
- những mảnh xương gãy éclats (splintres) v…v...
▪ Nó làm dịu :
- những da kích ứng peaux irritées,
- và làm giảm những đỏ da couperoses.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Pline nghĩ rằng Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis chữa lành tất cả những bệnh của con người.
Những người dân thời hoàng kim cổ xưa Celtes nghĩ rằng việc đặt để đĩa trái cây trên một người chết, để giữ những tà ma không xâm nhập vào cơ thể trên con đường đi vào thiên đàng dễ dàng.
Theo giáo lý của nhựng chữ ký, những lông tơ của Cây có nghĩa là giúp để tăng trưởng mọc những tóc.
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Biện pháp phòng ngừa .
▪ Những phương pháp chữa trị căn bản của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis hiếm gây ra những tác dụng phụ.
▪ Tôn trọng thời gian chữa trị và liều lượng quy định vẫn là yếu tố quan trọng.
Thật vậy, quản lý với một liều mạnh, Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis có thể trở nên độc hại toxiquehoặc dẫn đến những phản ứng dị ứng allergiquesở một số đối tượng.
▪ Giàu chất đường, dùng thuốc này không thích hợp ở những người mắc phải bệnh tiểu đường diabétiques.
▪ Dùng bên ngoài cơ thể, Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis không chỉ định để chữa trị cho những vết thương mở.
● Thận trọng :
Đây được xem như là một thảo dược rất an toàn, ít có hoặc không những tác dụng phụ được ghi nhận trong sự sử dụng.
Tuy nhiên, nó có thể gây ra sự giảm đường máu glycémiecho một số người nhất định. Vì vậy những người có nồng độ đường trong máu thấp nên kiểm tra lại với Bác sỉ trước khi sử dụng Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis.
▪ Chống chỉ định .
Những chống chỉ định chưa được xác định.
▪ Mang thai và cho con bú :
▪ Những hoạt động chánh của dược thảo này có thể có những tác  phụ ở những trẻ em tuổi nhỏ và những phụ nữ mang thai.
Nó thiếu những thông tin trên sự an toàn trong quá trình mang thai và cho con bú.
▪ Những dữ liệu khoa học là không đủ để đề nghị sự sử dụng của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis ở những trẻ em dưới 3 tuổi ( Khuyến nghị của cơ quan y tế Châu Âu ). Để làm giảm :
- ho toux,
liều hằng ngày phải dưới 3 g thảo dược khô ở những trẻ em từ 3 đến 6 tưổi  (4,5 g giữa 6 và 12 tuổi ).
Ứng dụng :
► Ứng dụng y học :
▪ Sử dụng ngâm trong nước đun sôi infusion, những hoa và những của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis chứa trong những phương thuốc tuyệt diệu chống :
- ho toux,
- đau cổ họng, yết hầu angine,
- và cảm lạnh rhume.
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion những Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được sử dụng để chữa trị :
- viêm bàng quang cystite,
- và đi tiểu thường xuyên miction fréquente.
▪ Một nước nấu sắc décoction của những rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis đã được sử dụng để chữa trị :
- bệnh sốt fièvres,
- và giảm huyết áp động mạch pression artérielle.
▪ Những rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis chuẩn bị trong nước nấu sắc décoction cho phép chữa trị tất cả những loại :
- bệnh của răng miệng affections buccales.
Nước nấu sắc này décoction cũng thích hợp với sự dùng tại chỗ ảnh hưởng.
Liệu pháp này thể hiện những hiệu quả tích cực trên :
- những bệnh ngoài da khác nhau dermatoses,
- những vết thương viêm sưng plaies enflammées,
- và những mụn nhọt furoncles.
Sử dụng trong bôm xịt vào trong âm đạo vaginale, dung dịch nấu sắc décoction Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis chữa trị có hiệu quả trong :
- bạch đới, huyết trắng leucorrhées,
- và tất cả biến thể của bệnh nhiễm trùng variantes d’infections.
▪ Nước nấu sắc décoction của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis, đặc biệt ở những rễ, là rất lợi ích khi mà chất nhờn tự nhiên đã bị mài mòn của những lớp của ruột intestins.
Nước nấu sắc décoction là rất tốt trong :
- những đau đớn nhức nhối plaintes douloureuses của những cơ quan đường tiểu organes urinaires,
- gây ra một hiệu quả thư giản trên những đoạn đường qua đường tiểu, những như hành động chăm sóc chữa bệnh curativement.
Nước nấu sắc này décoction cũng có hiệu quả để chữa lành bệnh :
- những vết bầm tím ecchymoses,
- những bong gân entorses
- hoặc tất cả những đau nhức douleur trong những cơ muscleshoặc những gân tendons.
▪ Đun sôi trong rượu vang hoặc sữa lait, Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis sẽ làm giảm :
- những bệnh của ngực poitrine,
tạo thành một phương thuốc dân gian cho :
- ho toux,
- viêm phế quản bronchite,
- bệnh ho gà coqueluche, …v…v…
Thường thường kết hợp vớì phương thuốc khác.
Nó thường đưa ra dưới dạng một sirop, thích ứng tốt với với trẻ sơ sinh và những trẻ em.
▪ Dưới dạng một thuốc mỡ pommade, Cây có nhiều hiệu năng áp dụng trên :
- những vấn đề của da,
- và trên những bệnh nấm ( chàm ) ngoài da eczémas.
Trà cũng được dùng cho :
- viêm dạ dày gastrite,
- và viêm ruột entérite
hoặc sử dụng như thụt rửa lavement cho :
- những bệnh viêm đường ruột inflammations intestinales,
- và là một chất nhuận trường tuyệt hảo excellent laxatif
cho những trẻ em .
Sử dụng bên ngoài cơ thể để :
- rửa sạch vết thương blessure,
- và những vết thường loét plaies,
hoặc thực hiện trong một thuốc mỡ làm mềm baume émollient hoặc một thuốc dán đắp cataplasme để :
- làm dịu những viêm da inflammations de la peau.
● Làm thế nào sử dụng Mãn đình thuốc :
▪ Những phần của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được sử dụng với mục đích y học, và thường nguyên liệu là những rễ và những .
Điều này có thể được tìm thấy trong trà thé, những viên nang gélules và những dung dịch trong cồn teintures, và những loại bệnh để chữa trị là trực tiếp liên quan đến số lượng liều lượng  và hình thức thảo dược.
▪ Những đau cổ họng maux de gorge và ho khan toux sèche thường được chữa trị với dung dịng trong cồn teinture, thường khoảng 1 đến 2 muỗng cà phê, từ 2 đến 3 lần trong ngày.
Khhi chữa trị khó tiêu indigestion hoặc những loét ulcères, dùng trà là giải pháp tốt nhất.
Trà Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis có thể mua chế tạo sẳn hoặc có thể thực hiện bằng cách sử dụng từ 2 đến 5 muỗng cà phê lá sấy khô hoặc bột rễ, và đun sôi chúng trong khoảng 5 onces = 141,74 gr nước.
Để có một dung dịch trà hiệu quả nhất, chuẩn bị nó cho cả hai lá khô và rễ dạng bột.
Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng colite ulcéreuse có thể được chữa trị bằng cách dùng 6  grammes mỗi ngày dưới dạng viên nang.
● Công thức của Mãn đình thuốc :
Nước nấu sắc décoction có thể thêm vào 5 pintes ( 1 pintes = 0,568 litre ) nước với 1/4 livre ( 1 livre = 453,6 gr ) =  của rễ khô, đun sắc xuống còn 3 pintes = 1,704 litre và lọc, nó không được làm quá đặc và nhớt visqueux.
▪ Sirop cho ho toux : Đặt 3 muỗng canh thảo dược nghiền nát tươi trong 1 tách nước lạnh, để ngâm trong vòng 8 giờ. Ép lấy nước và áp dụng, thêm mật ong và chanh.
Dùng 1 muỗng canh. Liều dùng thường xuyên khi cần thiết.
Trà thé : Với 1 tách nước lạnh, thêm 3 muỗng thảo dược sấy khô hoặc rễ, hoặc 1 tách nước thảo dược tươi , để ngâm trong 8 giờ. Ép lấy nước và chắt ra, hâm nóng và thêm đường ngọt theo khẩu vi.
► Sự sử dụng khác :
▪ Những rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis khô được đun sôi trong nước, sắc xuống còn phân nửa của trọng lượng của chất keo dính gommeusenhư tinh bột amidon.
Rễ sấy khô Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được sử dụng như một bàn chải đánh răng hoặc được nhai bởi những trẻ em mọc răng.
Nó có một hiệu quả cơ học trên những nướu răng gencives trong khi cũng giúp làm cho giảm đau.
Rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis cũng được sử dụng như một mỹ phẩm cosmétique, giúp làm mịn mềm da.
▪ Chất xơ của thân và những rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được sử dụng trên chế tạo giấy.
Rễ sấy khô và thành bột Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis đã được sử dụng để kết nối những thành phần hoạt động khi chế biến thuốc viên nang sử dụng trong y học.
▪ Một chất keo có thể làm từ những rễ Cây.
Rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được nấu chín trong nước cho đến khi sắc lại thàng một sirop đặc còn lại trong nồi, sirop này được sử dụng như một keo dán.
▪ Một dầu của hạt được sử dụng để chế tạo sơn và dầu bóng vernis.
Thực phẩm và biến chế :
Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis dùng thô sống hoặc nấu chín.
▪ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis được sử dụng như một nồi thảo mọc ( nồi rau luộc, nồi tập tàng ) hoặc nấu đặc thành những súp soupes.
Khi được sử dụng trong một phần nhỏ với những rau xanh khác, hương vị và cấu trúc có thể chấp nhận được nhưng với một lượng lớn của lá được nấu chín chung với nhau, kết cấu nhầy mucilagineuse của nó làm cho khó chịu.
Hoa Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis thơm cũng được sử dụng trong nồi lẫu thập cẩm pot-pourri.
▪ Những có thể ăn sống nhưng khá nhiều xơ và một ít lông mịn, mặc dù hương vị nhẹ nhàng và dễ chịu.
▪ Chấp nhận được được tìm thấy trong những salade khi được cắt nhuyễn.
Rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis - được dùng sống hay nấu chín.
▪ Khi đun sôi sau đó được chiên với hành tây, người ta làm một món ăn ngon miệng, thường được sử dụng trong thời kỳ thiếu thhức ăn, đói.
▪ Rễđược sử dụng khô sau đó được nghiền nát thành bột, biến chế thành bột nhão pâte và nướng để làm một « bánh Mãn đình thuốc marshmallow » ngọt.
Khi người ta đun sôi sau đó người ta chiên với củ hành tây, người ta đã thực hiện một món ăn ngon miệng.
Nước còn lại bởi nấu chín bất cứ bộ phận nào của Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis , trong đặc biệt từ những rễ, có thể được sử dụng như một thay thế cho lòng trắng trứng trong chế tạo meringues một bánh ngọt làm từ lòng trắng trứng và đường, nó được cbô động bởi đun sôi cho đến sắc xuống nhất quán tương tự như lòng trắng trứng.
Rễ chứa khoảng 37% tinh bột amidon, 11% chất nhầy mucilage, 11% pectine.
▪ Một trà được thực hiện từ những hoa.
Một trà thé cũng có thể làm từ rễ Cây Mãn đình thuốc Althaea officinalis.

Nguyễn thanh Vân

Nhận tin mới qua Email

  • Cập nhật tin tức hoàn toàn miễn phí qua Email
  • Đảm bảo an toàn thông tin của bạn
  • Nhận quà hàng tháng - Tri ân độc giả

Bài viết liên quan