Phong quỳ rừng - Wood Anemone

Wood Anemone
Phong quỳ rừng
Anemone nemorosa - L.
Ranunculaceae
Đại cương :
▪ Tên tiếng Anh, dẫn từ ý nghĩa tiếng Hy lạp grecque ( gió, phong vent) và do trên thực tế của những loải mọc trên những nơi cao tiếp xúc với gió mạnh.
Những tác giả khác đặt tên với sự run rẩy của hoa trước những cơn gió mạnh của mùa xuân.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là một thực vật có hoa ở đầu mùa xuân trong họ Ranunculaceae, có nguồn gốc ở Châu Âu.
Những tên thông thường bao gồm :
- anémone du bois,
- windflower,
- thimbleweed,
- và mùi hôi của loài chồn odeur du renard, mùi hôi nói đây ám chỉ mùi của lá.
Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong Cây Cỏ Việt Nam, tên Anemone được gọi là Phong quỳ Wood anemone, gọi là Cây Phong quỳ rừng.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là một thực vật sống trong những khu rừng rụng lá Châu Âu, mà những thảm thực vật Phong quỳ vào mùa xuân trổ hoa rất đẹp.
Nó phải có thời gian để cài đặt tăng trưởng, thậm chí ở những môi trường tự nhiên của nó, đó là lý do mà Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa được xem bởi những nhà sinh học biologiste như một loài thực vật điềm chỉ của những khu rừng trưởng thành, khá xưa.
Những hoa của nó cũng rõ ràng thể hiện ở bên trên đám , có một nét duyên dáng của sự đơn giản.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa có một vị trí trong những khu vườn, như một loài thực vật bao phủ trên đất của những vùng bóng râm bởi những tàn lá, nơi đây nó phát triển chậm, nhưng không để cho một loài thực vật hoang dại nào chen vào trong những căn hành dầy đặc.
Vì vậy, một khi cài đặt, dưới chân của những hàng rào, chẳng hạn, không có một cỏ dại nào để quản lý.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa được phổ biến rộng rãi trong Anh Quốc, Ireland, cũng được tìm thấy ở phần lớn lục đia Châu Âu , ngoại trừ những vùng khô cằn phía nam Địa Trung Hải .
Loài này cũng đã được giới thiệu đến nhiều vùng khác trên thế giới, bao gồm Bắc Mỹ.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Là một thực vật thân thảo duyên dáng cao khoảng 11 cm cao, thẳng đứng, không phân nhánh, 3 lá bắc mọc chụm vòng chung quanh thân, trổ hoa vào đầu mùa xuân và được tìm thấy trong những khu rừng mở. Thân được sản xuất từ đỉnh của những căn hành rhizome, rất đơn giản, mọc dựng thẳng lên không lá, trừ ở bên trên.
Căn hành Cây Phong quỳ rừng, nạt thịt và giòn, nó phát triển chậm vài cm mỗi năm. Nó chạy nằm ngay dưới mặt đất.  Rễ mọc ngang, mỏng.
kép hình chân vịt, gồm 3 lá mọc thành vòng chụm lại một mực chung quanh thân, 3 lá phụ, có thùy xẻ sâu.
Hoa, cô độc, từ 3 đến 5 cm đường kính, màu trắng, hoặc hồng , tím, trên một cuống ngắn, cây bắt đầu trổ hoa một thời gian sau khi những nổi lên từ mặt đất. Thân cuống hoa mọc từ giữa 3 lá phụ chụm lại, gồm có :
- Hoa thật sự không có cánh hoa, tất cả đều giống như những đài hoa nên được gọi là tépales, có từ 6 đến 7 tépales, ít khi lên đến 9, đài hoa và cánh hoa giống nhau, hình bầu dục trắng bên trong và màu hồng bên ngoài. Hoa mở ra theo hướng ánh sáng mặt trời và  khép lại vào ban đêm hay trong trường hợp mưa để tránh bị hủy bởi nước nó rủ cúi đầu xuống một cách duyên dáng. Tất cả những hoa đều được định hướng theo cùng một cách, một tấm thảm cỏ Cây Phong quỳ với những lá hình chân vịt đặc biệt rất hài hòa.
- nhiều tiểu nhụy ở trung tâm.
Trong thiên nhiên, những hoa thường màu trắng, nhưng có thể màu hồng , màu hoa cà hoặc màu xanh và thường có một màu sậm ở phía lưng những tépales.
Hoa thụ phấn bởi côn trùng ( trùng môi )
Trái, là bế quả achène, là một đầu thuôn dài với một chùm lông tơ trắng rậm.
Bộ phận sử dụng :
Cây, rễ.
▪ Thảo dược được thu hoạch vào mùa xuân trước khi Cây đi vào thời kỳ trổ hoa.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Thành phần anémonine (C10H8O4) Beckurts, 1892) xuất hiện không chỉ có trong Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, nhưng cũng ở Anemone Pulsatilla, L., Anemone pratensis, L., Ranunculus reptans, L., Ranunculus acer, L. và Ranunculus Sceteratus, L., và những lá của Cây Clematis angustifolia và Clematis integrifolia.
Nó thu được bằng cách chưng cất những thảo dược với nước, hoặc :
- để sản phẩm qua một bên để kết tinh thành tinh thể,
- hoặc lắc những chưng cất với chloroforme.
Từ dung dịch này, anémonine trước hết :
- kết tinh thành tinh thể,
- kế đó một chất gọi là anémone camphre,
là một hợp chất rất không ổn định, có một mùi hôi mạnh, kích ứng niêm mạc của mũi irritant les muqueuses du nez, ..v..v...
Nó dễ dàng phân chia thành :
- anémonine,
- và acide isanémonique vô định hình.
Thành phần anémonine dạng hình kim trắng có phị điểm từ 150 đến 152 ° C (302 à 305,6 ° F). Không mùi không vị và có phản ứng trung hòa nhưng có một vị nóng cháy khi tan chảy. Nó bay hơi với hơi nước đun sôi, và nó rất kích ứng với những điều kiện này.
Nó tan nhẹ trong nước lạnh và alcool, dễ dàng nhất trong chloroforme và trong dầu cố định, nhưng không tan trong éther.
▪ Alkalies kết hợp dễ dàng với acide anémique(C10H10O5) cũng xảy ra trong Cây với acide anémoninique(C10H12O6).
▪ Những thành phần như :
- glycose,
- tanin,
- 2 chất résines,
- pectine,
- những muối Calcium sels de calcium,
- và magnésium,
- những sulfates,
- và những thành phần thông thường của Cây cũng đã tìm được bởi Miller.
▪ Chất lòng trắng trứng albumine đã vắng mặt (voir le Prof. J. U. Lloyd, Médicaments et médicaments de l'Amérique du Nord, Vol. I, 29).
▪ Mr. A. W. Miller (1862), đã chứng minh được sự tồn tại của một nguyên chất acide dễ bay hơi trong thực vật này, và bằng cách khuấy dung dịch nước cất với chloroforme, Ông thu đuợc một nguyên chất trắng chát, Ông tin là chất anémonine, mặc dù số lượng rất thấp để xác minh.
▪ Anh trai của Ông F. B. Miller, tái khảo sát Cây vào năm 1873 và bởi cùng quá trình đó, thu được một tinh thể trắng và tinh thể có lông, lúc đầu cho một phản ứng trung tính neutre, nhưng trở nên cả hai acide và có màu sắc trong vài ngày.
▪ Một chưng cất của nước ép jus tươi bảo quản trong alcool cũng đã được chưng cất bởi Ông ta và được xử lý với chloroforme, từ đó những tinh thể màu nâu acide thu được.
▪ Một số lượng thảo dược khô, sau đó được chưng cất và tiếp theo sau được sử lý với chloroforme, như bên trên, không thu được một nguyên chất chát nào với thảo dược tươi.
Do đó, dường như được kết luận rằng, chất anémoninebị tiêu tan trong quá trình sấy khô, điều này dường như cũng xuất hiện từ trên thực tế rằng là những thảo dược khô không có đặc thính kích ứng của những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa tươi và khi nhai những thảo dược 1 năm tuổi chỉ có những cảm giác ngứa ran nhẹ.
Đặc tính trị liệu :
Những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là thuốc :
- chống  bệnh thấp khớp antirhumatismales,
- làm nổi đỏ da rubefacient,
- và thuốc bổ tonique.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa đôi khi được sử dụng bên ngoài cơ thể như :
- chống kích ứng contre-irritant
trong chữa trị :
- bệnh thấp khớp rhumatisme.
▪ Bộ phận khác của thảo dược Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa đã được để nghị cho những đau bệnh khác, như là :
- đau đầu maux de tête,
- và bệnh thống phong goutte,
mặc dù Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa hầu như không được thực hành sử dụng ở ngày nay.
▪ Một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathiqueđược chế tạo từ những .
▪ Tất cả những bộ phận của Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa chứa :
- chất protoanémonine,
có thể là nguyên nhân của một kích ứng nghiêm trọng của :
- da peau,
- và dạ dày-ruột gastro-intestinaux,
- một hương vị đắng goût amer,
- và những phỏng cháy brûlures trong miệng bouche và cổ họng gorge,
- những loét miệng ulcères de la bouche,
- buồn nôn nausées,
- những ói mữa vomissements,
- tiêu chảy diarrhées,
- và ói ra máu hématémèse. ( bệnh có nguồn gốc từ bắp cơ trên của thập nhị chỉ tràng duodénum, thường dễ nhầm lẫn với ho ra máu hémoptysie…).
▪ Mặc dù loài Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa này trong thực hành đã thất bại đã không còn sử dụng nữa, những nhà dược thảo herboristes đề nghị áp dụng những bộ phận khác nhau của Cây cho :
- những đau đầu maux de tête,
- bệnh sốt rét fièvre tierce (biểu thị một dạng của bệnh sốt rét gây ra sốt phát sinh mỗi ngày thứ hai ),
- và bệnh thống phong thấp khớp goutte rhumatismale.
Do đó, rễ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, được nhaitrong miệng, sản xuất :
- nhiều đàm crachats,
và đem đi nhiều :
- ẩm ướt mà nó tạo ra ,
- và khí sắc lãnh đạm flegmatiques,
và do đó tuyệt dịu cho :
- trạng thái hôn mê léthargie....
▪ Việc biến thành một thuốc mỡ pommade và những lông mi mắt paupières đã bị khó chịu, nó giúp cho :
- viêm mắt inflammation des yeux.
▪ Thâm chí thuốc mỡ pommade là tuyệt dịu để làm sạch :
- những loét ác tính ulcères malins,
- và ăn mòn corrodants».
Parkinson écrit:
« Ngày nay, người ta ít dùng những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa trong cơ thể, hoặc là cho những bệnh dùng bên ngoài cơ thể, hoặc là vào bên trong cơ thể.
▪ Chỉ những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là được sử dụng trong thuốc mỡ pommade, gọi là Marciatum, gồm nhiều thảo dược nóng khác nhau….
Rễ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa do tính rõ nét là khả năng làm giảm :
- bệnh thấp khớp rhumatisme
nếu nó được nếm trải hoặc nhai trong miệng.
Tuy nhiên, những nhà thẩm quyền gần đây ngần ngại đề nghị nhai những rễ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, do bởi chất độc chát poison acre và kích ứng irritant mà được biết nó hiện có trong rễ.
▪ Một nhà tự nhiên Anh Quốc trong nước này cũng có nhận xét như thế.
▪ Một nhà tự nhiên khác đưa ra một báo cáo hàng năm về những ngày nở hoa vào mùa xuân , phát hiện rằng Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa không bao giờ nở hoa trước 16 tháng 3 và trể lắm 22 tháng 4.
Những quan sát của những nhà nghiên cứu tự nhiên này được thực hiện trong mỗi mùa xuân và trong suốt 30 năm.
Kinh nghiệm dân gian :
● Những văn bản xưa ghi lại :
Culpepper (1725) xem rằng một nước nấu sắc décoction của hoa Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là có giá trị trong :
- những thất bại dự kiến kinh nguyệt, hoặc kinh nguyệt bị trấn áp menstruations supprimées;
và Ông tuyên bố rằng :
- nước ép jus hít inhale vào trong hốc mũi narines,
- những rễ được nhai mâchée,
đã phán đoán là có lợi ích để :
- kích thích những sự bài tiết sécrétions,
và một thuốc mỡ pommade có lợi ích cho :
- viêm mắt inflammation des yeux
- hoặc cho những vết loét ác tính ulcères malins.
Motherby (1775) tuyên bố rằng rễ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa đỏ hồng là : " chất tẩy sạch, nếu được đập nát khi chúng còn tươi, được áp dụng cho :
- những vết loét không đau ulcères indolents,
và trên da peau, nó  làm cho :
- nước hoặc mũ chảy ra từ những mụn rộp cloques.
Ông tuyên bố rằng Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa được sử dụng như :
- một thuốc kích mũi để thúc đẩy hắc hơi và tăng lượng chất thải errhine,
và như :
- một nước thuốc rửa mắt collyrium.
Meyrick (1790) viết rằng « nước ép jus Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, nếu được hít vào trong mũi nez hoặc rễ ngậm vào trong miệng bouche, kích thích :
- xả ra đáng kể khí lạnh froides,
- những dịch lỏng nước ngấm tràn ngập vào khoảng không gian giữa giác mạc và thủy tinh thể trong mắt.
và Ông tuyên bố rằng những lá tươi bị đập dập của Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, được áp dụng trên :
- những loét không gây đau đớn ulcères indolents,
- hoặc những vết thương loét chảy mủ plaies courantes,
hành động như :
- một chất kích thích stimulant,
- làm sạch nettoient,
- và kích động để chữa lành incitent à guérir.
▪▪▪ Người ta cũng được thông báo bởi những người có thẩm quyền rằng « một số nhất định của những tác giả đề nghị trong :
- sự loại bỏ của kinh nguyệt menstruation,
nhưng nó quá chát âcre trong bản chất của nó để cho việc sử dụng bên trong cơ thể và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng ».
Hooper (1817) tuyên bố rằng những thâm tím và những hoa Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa áp dụng bên ngoàicơ thể, chữa lành :
- viêm nướu tinea capitis.
và Ông cũng có thẩm quyền tuyên bố nghi ngờ theo đó những cư dân của Kamschatka sử dụng rễ của thảo dược này để :
- tẩm độc những mũi tên empoisonner leurs flèches.
Linnaeus đã nói rằng khi mà những gia cầm được nuôi bởi thảo dược này, nó gây ra :
- đi tiểu ra máu urinesanglantes
- và bệnh kiết lỵ dysenterie.
Những điều đã nêu trên là chất của tài liệu văn học Châu Âu trên những đặc tính y học của thảo dược này và những nhà văn Hoa Kỳ, chúng ta đã tìm thấy, đã rút ra từ đó những gì mà chứng ta đã trích dẫn.
Hand (1820) cho chúng ta một bản tổng kê đầy đủ hơn của những bệnh trong đó Thảo dược này đã được ứng dụng trước đây mà người ta tìm thấy trong bất kỳ công việc nào khác của Mỹ.
Ông cho biết thêm rằng Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa tươi sử dụng có thể :
- sản xuất ra những bỏng rộp cloques;
và, trong so sánh với Côn trùng bọ cánh cứng màu xanh lá cây Cantharides ( loài này tiếp xúc được với mụn rộp vésicant và chuyển qua để kích thích tình dục aphrodisiaque ), Ông báo cáo rằng là nó nhanh hơn, ít đau đớn hơn và tất cả lợi ít như nhau.
▪ Ông cũng báo cáo rằng Cây Phong quỳ Virgine Anémone virginiana có những đặc tính tương tự với Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, nhưng mạnh hơn nhiều.
▪ Người ta trích dẫn những đề tài viết của Ông về Cây Phong quỳ Virgine Anemone virginiana như dưới đây : « Nó  cũng được sử dụng bên trong cơ thể trong chữa trị :
- loại bỏ những xả thải kinh nguyệt évacuation mensuelle ở những phụ nữ, chỉ tùy thuộc vào sự yếu đuối.
- trong những mù lòa obscuritéscủa bộ phận mắt œil gọi là giác mạc cornée
- trong bệnh hoa liễu vénérien
- những đau nhức và những khối u xương tumeurs des os,
- và những loét thối rữa ulcères de la pourriture,
- những tuyến bã nhờn glandes indurées,
- những phun mũ éruptionsmãn tính chroniques,
- tình trạng u sầu tư lự mélancolies,
- và bệnh liệt paralysies.
Kalm nói rằng những hạt có lông Cây Phong quỳ Virgine Anemone virginiana làm giảm :
- những đau răng mal de dents,
nếu nó được ngâm vào trong alcool và nhét vào trong khoang răng cavité de la dent.
Porcher(1849) cho chúng ta những thông tin rằng nước ép jus của Cây sẽ loại bỏ :
- những da cứng sừng cors,
- và phồng rộp vésicant,
nhưng nếu áp dụng đúng cách, Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là một phương thuốc tốt chống lại :
- những bệnh sốt fièvres,
- bệnh thống phong gouttes,
- và thấp khớp rhumatismes.
Scudder(Médicaments spécifiques) tuyên bố rằng, « điều này ảnh hưởng đến chức năng của những chất thải và sửa chữa, nhưng hoạt động trực tiếp trên hệ thống thần kinh système nerveux ».
▪ Những người dân Ai Cập Égyptiens giữ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa như :
- một biểu tượng của bệnh hoạn emblème de la maladie,
có thể là do màu sắc tuôn ra trên lưng của những đài hoa trắng.
▪ Những người Tàu gọi là « Hoa tử thần Fleur de la Mort ». trong một số nước nhất định Âu Châu, những người nông dân xem như là một loại hoa mang lại điềm xấu, mặc dầu lý do mê tín dị đoan superstitionlà mơ hồ.
▪ Những người La Mã Romains đã nhổ những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa đầu tiên như một say mê quyến rủ chống lại :
- bệnh sốt fièvre,
và trong một số vùng xa hẻo lánh, thực hành này vẫn còn tồn tại, nó được coi là một số nhất định phương thuốc để tập hợp câu nói của một Cây Phong quỳ : « Ta tập hợp tất cả những bệnh này » , và để buộc chúng quanh cổ  của những người tàn tật invalide.
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa chứa những thành phần độc hại toxiques, độc hại cho những động vật, bao gồm những con người, nhưng nó cũng được sử dụng như một thuốc. 
● Phản ứng phụ :
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là một thực vật sử dụng theo truyền thống Nga.
Những bộ phận phát triển bên trên mặt đất được dùng làm thuốc, để chữa trị cho những người mắc phải :
- đau dạ dày douleurs d’estomac,
- kinh nguyệt trễ retard de règles,
- bệnh thống phong goutte,
- ho gà coqueluche,
- bệnh suyễn asthme.
▪ Không đủ những thông tin để biết làm thế nào để biết chức năng hành động của Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa.
▪ Không có bằng chứng đủ cho những điều kiện nêu trên và những điều kiện khác.
▪ Không có bằng chứng cần thiết để đánh giá hiệu quả của Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa cho những sử dụng này.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa tươi là nguy hiểm để sử dụng bên trong cơ thể.
▪ Nó chứa những thành phần hóa chất có thể làm kích ứng nghiêm trọng cho dạ dày estomac,
và ruột intestins .
▪ thu hoạch ăn tươi có thể gây tử vong fatale.
▪ tiếp xúc với da có thể gây ra :
- những mụn rộp cloche,
- phỏng cháy với chữa lành bệnh chậm brûlures à cicatrisation lente.
▪ không đủ thông tin cho sự an toàn của sản phẩm khô.
● Sự đề phòng đặc biệt và cảnh báo :
- Phụ nữ mang thai và cho con bú.
- không dùng Phong quỳ tươi ở miệng và áp dụng ở da.
Ứng dụng :
Trong tình trạng gần đây, những lá bị thương thâm thím và được áp dụng trên :
- da nổi đỏ peau sont rubefacient.
với một liều lớn,  thực vật này gây ra :
- buồn nôn nausées,
- ói mữa vomissements,
- tình trạng tiêu chảy của ruột diarrhea,
- và đi tiểu ra máu hématurie.
▪ Thực vật này có vị chát âcre và độc hại toxique. Nó được đề nghị trong :
- tình trạng hoại tử amaurose,
- và những bệnh mắt khác maladies de l'œil,
- bệnh giang mai syphilisthứ cấp,
- những bệnh của da maladies cutanées,
- và ho toux,
với liều dùng đề nghị 1 hoặc 2 hạt / ngày.
Ở đây, tuy nhiên, được sử dụng thời cổ xưa.
Trong khi áp dụng tại chổ, nó được cho là có hiệu quả trong :
- bịnh sài đầu của trẻ con tête d'échaudure..

Nguyễn thanh Vân

Nhận tin mới qua Email

  • Cập nhật tin tức hoàn toàn miễn phí qua Email
  • Đảm bảo an toàn thông tin của bạn
  • Nhận quà hàng tháng - Tri ân độc giả

Bài viết liên quan